
Đại cương bệnh gout
1. Tổng quan
Gout là bệnh do rối loạn chuyển hóa acid uric dẫn đến nồng độ acid uric máu tăng cao khi đạt đến ngưỡng bão hòa gây lắng đọng các tinh thể urat tại các mô khớp và các mô khác trong cơ thể. Bệnh thường gặp nam giới tuổi trung niên trên 30 hoặc 35 tuổi. Bệnh gout diễn biến theo các giai đoạn:
– Giai đoạn 1: Acid uric tăng cao trong máu cao (thường chưa xuất hiện các triệu chứng)
– Giai đoạn 2: Viêm khớp cấp tính
Các tinh thể acid uric bắt đầu lắng đọng tại khớp, thường là 1 khớp (phổ biến nhất là ngón chân cái) và gây sưng đột ngột. Cơn gout cấp chỉ diễn ra trong khoảng vài ngày và tự khỏi.
– Giai đoạn 3: Tái phát cơn gout cấp
Các cơn gout cấp thường tái phát. Thời gian tái phát phụ thuộc tình trạng bệnh.
– Giai đoạn 4: Gout mãn tính
Bệnh nhân gout không điều trị, bệnh trở thành mãn tính và gặp nhiều khớp hơn. Các cơn đau liên tục và thường bị nhầm với các dạng viêm khớp khác, nhất là viêm xương khớp. Đồng thời, các tinh thể urat lắng đọng ở các khớp và mô, dẫn đến hình thành hạt tophi dưới da.
2. Nguyên nhân
Gout không lây qua đường ăn uống hay đường máu. Có 2 nhóm nguyên nhân gây bệnh: nguyên phát và thứ phát.
a) Gout nguyên phát
– Gen: Bố mẹ mắc bệnh gout, con cái tăng 20% nguy cơ bệnh gout.
– Người dân Anh và Mỹ da đen có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn
– 95 % bệnh nhân gout là nam giới, thường gặp tuổi trung niên trên 30 hoặc 35 tuổi. Nữ giới ít mắc bệnh gout (5%), thường là sau tuổi mãn kinh mới xuất hiện.
b) Gout thứ phát
– Do chế độ ăn uống không hợp lý: Bệnh nhân ăn nhiều thịt đỏ (thịt bò, thịt bê…), hải sản, nội tạng động vật và uống nhiều rượu bia…
– Dùng thuốc gây giảm đào thải acid uric qua thận: Thuốc lợi tiểu, thuốc điều trị lao (PZA, etham), nhóm salicylat, nhóm corticoid và gây độc tế bào, thuốc levodopa, acid nicotinic.
– Một số bệnh làm tăng nguy cơ acid uric máu cao: suy thận, ngộ độc chì, bệnh vẩy nến, suy giáp hoặc cường giáp, đái đường, hội chứng down…
c) Nguyên nhân gây tái phát cơn gout cấp
Cơn gout cấp không chỉ xảy ra khi mức acid uric tăng cao mà còn khi thay đổi nồng độ acid uric một cách đột ngột do một số nguyên nhân sau:
– Ăn nhiều thịt đỏ, uống rượu bia
– Tổn thương về tâm lý và tình cảm
– Đói và mất nước
– Sốc thuốc do tiêm tĩnh mạch
– Uống thuốc điều trị bệnh khác, gây tác dụng không mong muốn giảm đào thải acid uric niệu
– Uống thuốc giảm acid uric trong máu: Allopurinol, probenecid…
– Các yếu tố khác
3. Triệu chứng
– Triệu chứng đầu tiên của viêm khớp do gout thường là sưng, nóng, đỏ các khớp một cách đột ngột. Khớp thường bị nhất là khớp bàn-ngón ở ngón chân cái. Viêm khớp cấp do gout tại khớp bàn-ngón ở ngón chân cái được gọi là bệnh podagra (bệnh gout chân).
– Ngay cả nếu không được điều trị, cơn đau đầu tiên có thể tự hết trong vòng 1 đến 2 tuần. Các triệu chứng đau và sưng có thể khỏi hoàn toàn nhưng viêm khớp do gout lại thường hay tái phát ở cùng một khớp hay trên một khớp khác.
– Sau một thời gian, các đợt viêm xuất hiện thường xuyên hơn, kéo dài hơn và xảy ra ở nhiều khớp hơn…
– Tinh thể urat lắng đọng tại thận gây sỏi thận
– Tinh thể urat có thể lắng đọng ở ổ khớp tạo thành hạt tophi…
4. Chuẩn đoán bệnh gout
– Các xét nghiệm chuẩn đoán
+ Xét nghiệm tìm tinh thể muối urat: Soi dưới kính hiển vi để xác định tinh thể urat trong dịch khớp hay trong hạt tophi.
+ Xét nghiệm máu: Kiểm tra chỉ số acid uric trong máu
+Chụp X-quang
– Tiêu chuẩn: (Wallace, Robinson năm 1997):
+ Có các tinh thể urat trong dịch khớp.
Trong hạt tophi có chứa tinh thể urat phát hiện bằng phản ứng hóa học, hoặc soi bằng kính hiển vi phân cực.
+ Có 6 trong số 12 dấu hiệu lâm sàng, xét nghiệm hoặc X-quang sau:
• Có trên 1 đợt viêm khớp cấp tính.
• Viêm đạt đến mức tối đa trong vòng một ngày.
• Viêm 1 khớp.
• Khớp đỏ.
• Đau hoặc sưng đốt bàn –ngón một bàn chân.
• Tổn thương viêm ở đốt bàn-ngón chân một bên.
• Tổn thương viêm khớp cổ bàn chân một bên.
• Có hạt tophi.
• Tăng acid uric.
• Sưng khớp không đối xứng (chụp X-quang ).
• Có những kén dưới vỏ xương, không có khuyết xương (X-quang).
• Nuôi cấy vi khuẩn dịch khớp có kết quả âm tính trong đợt viêm khớp.
5. Điều trị gout
– Điều trị gout cấp
+Thuốc chống viêm NSAIDS: indomethacin, ibuprofen, naproxen, celecoxib, natri diclofenac… Chú ý không dùng aspirin cho trường hợp này.
+Colchicine: Giảm đau cơn gout cấp và ngăn ngừa tái phát các cơn gout cấp.
+Corticosteroid và ACTH được xem là những thuốc có hiệu quả điều trị cơn gút cấp vì hoạt tính chống viêm của thuốc. Do có một số tác dụng phụ, các thuốc này được dành để điều trị cơn gút cấp kháng thuốc.
– Giảm acid uric máu: Mục tiêu điều trị là giữ mức acid uric ở khoảng 5-6 mg/dL, tránh tái phát gout cấp
+ Allopurinol: ngăn chặn xanthine oxidase và làm giảm sản xuất Acid Uric.
+ Sulfinpyrazone: Sulfinpyrazone là một chất làm tăng bài tiết Acid Uric qua nước tiểu nhưng ít dùng vì nguy cơ ức chế tủy xương.
+ Probenecid: Một số nhà khớp học chọn dùng probenecid vì ít gây tác dụng phụ hơn allopurinol. Probenecid có thể dùng ở đa số đàn ông bị Gout, tuổi trung niên, khoẻ mạnh. Chỉ định dùng allopurinol thay vì probenecid khi có suy thận .
+ Urate-oxidase (uricase) được dùng ở châu Âu để đề phòng tăng Acid Uric máu nghiêm trọng do hoá trị ung thư, và cho bệnh nhân kháng với các điều trị gout thông thường.
+ Benzbromarone là một tác nhân tăng Uric-niệu hiệu quả. Tuy nhiên, nó có thể gây nhiễm độc gan cấp.
+ Febuxostat, chất ức chế xanthine oxidase không purine dùng thay thế allopurinol trong các bệnh nhân không đáp ứng thuốc hoặc suy thận.
6. Chế độ ăn
– Hạn chế thức ăn nhiều đạm (thịt bò, hải sản, nội tạng động vật…), chất béo và uống bia rượu.
– Không ăn nhiều các loại đậu hạt, măng tây.
– Dùng nhiều: Các loại rau xanh, trái cây tươi, các loại ngũ cốc
– Uống nhiều nước, nước khoáng có bicarbonate, nước sắc lá xakê.
– Tăng cường vận động.
– Tránh stress, tránh gắng sức, tránh lạnh đột ngột…
Bệnh gout thứ phát
II. NGUỒN GỐC VÀ THẢI TRỪ ACID URIC
-
Nguồn cung cấp và sản xuất
-
Đào thải:
IV. NGUYÊN NHÂN:
A. Gout nguyên phát (95%)
BỆNH LÝ
|
THUỐC
|
– Huyết học (++)
– Thận (suy thận)(+++)
– Ngộ độc (chì, beryllium)
– Vảy nến
– Suy giáp, cường cận giáp
– Đái tháo đường nhiễm toan, đái tháo nhạt
– Hội chứng Down
– Ung thư phổi, cao huyết áp
|
– Lợi tiểu (+++)
– Thuốc lao (PZA, etham)
– Nhóm salicylat
– Corticoid + độc tế bào
– Acid nicotinic
– Levodopa
|
– Acid uric có thể tăng khi: nhịn đói, hoạt động thể lực nặng, ngộ độc rượu cấp.
V. MỘT SỐ BIỂU HIỆN LÂM SÀNG NGOÀI KHỚP:
– Hội chứng Down
– Ung thư di căn
– Suy tuyến cận giáp
– Bệnh sarcoidose
-
Chấm dứt quá trình viêm cấp (Kháng viêm không steroid, colchicin, corticoid)
-
Phòng ngừa cơn cấp tái phát thường xuyên (colchicin)
-
Phòng ngừa sự lắng đọng thêm cũng như làm giải quyết các tophi sẵn có với các biện pháp làm giảm acid uric trong máu. Ngoài ra, cũng cần điều trị các bệnh lý đi kèm như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và béo phì.
– Chế độ ăn:
· Giảm tối đa thức ăn cung cấp nhiều đạm gốc purin
Bệnh Gout nguyên phát
Gout là một dạng viêm khớp thể hiện qua những cơn đau, sưng khớp do acid uric trong máu tăng cao và gây lắng đọng tinh thể urat tại các ổ xương khớp và các mô khác trong cơ thể. Điểm đặc thù là đau nhức, sưng, đỏ, và nóng cũng như cứng (khó cử động) trong 1 hay nhiều khớp. Do đó bệnh nhân cần chuẩn đoán và điều trị gout sớm để tránh cơn đau tái phát và có thể gây ra thương tổn khớp, gân, và các mô khác.Vậy nguyên nhân bệnh gout là gì?
Nguyên nhân gây bệnh gout gồm 2 nhóm gout nguyên phát và gout thứ phát.
Bệnh gout nguyên phát có tính chất di truyền, liên quan đến rối loạn gen và mang tính gia đình rõ rệt là bệnh gắn liền với các yếu tố di truyền và cơ địa, những bệnh nhân này có quá trình tổng hợp purin nội sinh tăng nhiều, gây tăng acid uric.
Bệnh gout thứ phát xuất hiện do tăng acid uric máu sau một số bệnh khác. Khi tìm thấy nguyên nhân gây tăng acid uric máu và loại trừ được nguyên nhân thì bệnh khỏi. Gout thứ phát hay gặp thể viêm khớp cấp di chuyển hơn là thể ngón chân cái và hầu như không thấy thể đa khớp có u cục, thường có kèm theo sỏi thận, hoặc lắng đọng urat ở nhu mô thận. Trong bài trước chúng tôi đã trình bày rõ về nguyên nhân gây bệnh gout thứ phát, phần này chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày bệnh gout nguyên phát.
Bệnh gout nguyên phát là nguyên nhân gây bệnh chủ yếu, chiếm 95 %. Bao gồm:
+Di truyền (25%): Gout nguyên phát có tính chất di truyền, liên quan đến rối loạn gen và mang tính gia đình rõ rệt. Nếu bố hoặc mẹ bạn mắc bệnh gout, nguy cơ mắc bệnh tăng 20 %. Người Anh và người Mỹ da đen (không phải người châu Phi) có nguy cơ mắc bệnh gout cao hơn.
+ Hội chứng X (rối loạn chuyển hóa glucid- protid-lipid): Làm tăng tổng hợp purin nội sinh, dẫn đến tạo nhiều acid uric, và tăng acid uric huyết thanh, gây bệnh gout.
+Đối với gout nguyên phát, thường liên quan giới tính, bệnh nhân mắc bệnh gout chiếm 95% là nam giới và thường khởi phát tuổi trung niên.
Đối với bệnh gout thứ phát, nguyên nhân gây bệnh thường rõ ràng, trong khi đó bệnh gout nguyên phát lại khó xác định nguyên nhân cụ thể. Tuy nhiên, với tiến bộ y học hiện nay, bệnh gout hoàn toàn kiểm soát bằng chế độ ăn và sinh hoạt hợp lý đồng thời điều trị thuốc giảm acid uric trong máu.
benhvathuoc.com